Eocanthecona furcellata (Hemiptera: Pentatomidae, phân họ Asopinae) · Nhóm: Bọ xít ăn thịt
Trưởng thành: bọ xít TO 12–16 mm, nâu xám/xám đen, vai có gai nhọn, VÒI NGẮN DÀY khỏe (vòi của loài ăn thịt ngắn và cong, khác vòi mảnh dài của bọ xít hút nhựa). Bọ non đen có đốm đỏ/cam, hay tụ tập trên con mồi. Săn mồi công khai trên tán lá — thấy nó đang cắm vòi vào sâu non là dấu hiệu đặc trưng.
Ăn sâu non bướm cỡ lớn: sâu khoang, sâu xanh, sâu xanh da láng, sâu keo — cả những con sâu đã lớn mà ong ký sinh không xử lý được — ánh xạ: rau-muong-sau-khoang, cai-xanh-sau-xanh-da-lang (cu-la)
Rau màu, đậu, ngô, vườn cây; phân bố khắp Đông Nam Á, được nghiên cứu nhân nuôi ở VN/Thái Lan/Ấn Độ
Thuốc phổ rộng giết cả bọ non lẫn trưởng thành; không phun khi thấy bọ non đang tụ trên sâu; có thể giữ bằng cách để lại vài hàng cây có sâu làm "mồi duy trì" ở góc ruộng thay vì phun sạch toàn bộ
Phân biệt bọ xít ĂN THỊT vs bọ xít HÚT NHỰA hại cây (cùng họ Pentatomidae, rất dễ nhầm): loài ăn thịt vòi ngắn, dày, cong như mỏ chim, vai gai, thường thấy đơn độc săn mồi; loài hại (bọ xít xanh Nezara, bọ xít lúa Leptocorisa) vòi mảnh dài áp dưới thân, tụ đàn trên trái/bông để hút. Thấy bọ xít đang ăn sâu = bạn; thấy bọ xít tụ trên trái non = thù

Wikimedia Commons: "Eocanthecona furcellata, Pulikurumba.jpg" — CC BY-SA 4.0 — tác giả: Nativeplants garden — https://commons.wikimedia.org/wiki/File:Eocanthecona_furcellata,_Pulikurumba.jpg
Nguồn: Tài liệu Asopinae Đông Nam Á (E. furcellata là bọ xít ăn thịt phổ biến, nhân nuôi phòng trừ sâu bướm); giáo trình côn trùng học nông nghiệp VN